LƯỢC SỬ HIỆP HỘI VCFK
I. Giai đoạn người Hàn quốc truyền giáo cho người Việt Nam tại Hàn Quốc
Từ cuối thập niên 90, đã hình thành những Tổ chức và Hội Thánh Hàn Quốc truyền giáo cho người Việt tại Hàn Quốc.
A. Hội VDM (Vietnamese Discipleship Mission)
B. Hội Thánh Saemoonan
– Đảm trách: Giáo sĩ Shim Chi Yong và vợ Chae Ha Kuyng
– Thời gian nhóm họp: Mỗi tháng vào Chúa nhật tuần thứ 3
– Chương trình sinh hoạt gồm có:
+ Khám chữa bệnh và phát thuốc miễn phí
+ Cắt tóc miễn phí
+ Đăng ký và gia hạn bảo hiểm Hỷ-niên
+ Nhóm thờ phượng và sinh hoạt
C. Các Hội Thánh khác
– Từ đó đến nay, vẫn có những Hội Thánh Hàn Quốc mở ra các chương trình truyền giáo cho người Việt, dù không có Mục sư, Truyền đạo, Giáo sĩ người Việt chính thức đảm nhiệm. Hiện nay (2012), VCFK vẫn chưa thống kê hết được số lượng điểm nhóm dành cho người Việt do cá nhân người Hàn hoặc Hội Thánh Hàn Quốc đứng ra tổ chức.
II. Giai đoạn người Việt khởi sự truyền giảng cho người Việt tại Hàn Quốc
Bối cảnh: Một số du học sinh người Việt khởi sự du học tại trường ACTS, Hàn Quốc
– Cô Lê Thuỵ Khanh nhận học bổng du học chương trình Master of Divinity (M.Div) năm 1996 tại trường ACTS (Asian Center for Theological Studies and Mission – Trung Tâm Nghiên Cứu Thần Học và Truyền Giáo Châu Á). Qua Giáo sĩ Shim Chi Chong, giáo sư truyền giáo tại trường ACTS, cô Khanh biết về HT Saemoonan có chương trình truyền giáo cho Việt Nam. Tuy nhiên, cô Thụy Khanh còn quan ngại vấn đề trở về Việt Nam nên không cộng tác chính thức. Chỉ tham gia cầu nguyện cho người Việt tại đây.
– Thầy Võ Đức Trí sang du học tiếng Hàn từ năm 1998 (đã tốt nghiệp M.Div, Th.M, và đang học chương trình tiến sĩ ngành Thần học Hệ thống tại đại học Yonsei). Thầy có vài lần đến tham dự tại HT Saemoonan nhưng chỉ với tư cách một tín hữu thông thường, và cũng có đến tham dự một vài điểm nhóm nhỏ do người Hàn đảm trách. Song với tư cách du học sinh thông thường nên chưa có hợp tác chính thức (lúc đó tại Saemoonan đã có 1 thông dịch viên là cô Lý Như Hương lập gia đình với người Hàn nên cũng không có nhu cầu thông dịch).
– Năm 1999 Mục sư Võ Bá Thanh theo sự giới thiệu của ông Kim Buyng Ha (cha của cô Cẩm Lệ) và Hội Thánh nên theo học chương trình M.Div tại ACTS. Vì nhu cầu tài chính của ACTS có hạn nên đã nới lỏng việc quản lý sinh viên vào ngày cuối tuần và Mục sư Thanh được trường điều đến Hội Thánh Muyngsung theo yêu cầu của Hội Thánh, và được làm “Thầy giảng” cho nhóm người Việt tại đó (là 1 trong 6 điểm nhóm khác nhau).
– Năm 2000 cô Lê Thị Lệ Thanh sang du học tại trường đại học Kosin (Busan), qua liên lạc với cô Thanh, được biết ở Busan cũng có một nhóm nhỏ người Việt Nam nhóm họp tại một nhà thờ người Hàn qua sự thông dịch của cô Nguyễn Thị Anh Đào – 안승희 (sau này lập gia đình với thầy Kim Nak Yun và dời về Seoul).
– Cũng trong năm 2000, thầy Phạm Văn Lộc từ Đà Nẵng và thầy Nguyễn Trường Hy từ Long An sang du học chương trình M.Div tại trường ACTS vào học kỳ mùa Xuan. Đến học kỳ mùa Thu, thầy Kiều Công Thuận từ Biên Hoà sang học chương trình M.Div tại đây.
– Hơn nữa, qua ngoại giao với các Mục sư và Giáo sĩ người Hàn, thầy Phạm Văn Lộc được mời đến giảng cho nhiều Hội Thánh người Hàn và người Việt. Nhóm truyền giáo cho người Việt tại Daegu được hình thành và tồn tại cho đến nay do cô Huỳnh Thanh Thủy phụ trách.
– Năm 2001 cô Nguyễn Thị Thu Thảo qua sự giới thiệu của Giáo sĩ Giôna Chang được theo học tại trường Chongshin. Cô Thảo khởi sự thông dịch và bắt đầu hầu việc Chúa tại khu vực Gumi với sự tài trợ của Hội Thánh Gumi-Jeil.
– Sau khi cô Lê Thuỵ Khanh tốt nghiệp và trở về Việt Nam vào năm 1999, tiếng đồn hiếu học của người Việt Nam tại trường ACTS đã giúp cho trường mạnh dạn nhận thêm du học sinh mới là cô Nguyễn Dương Bích Phượng vào học kỳ mùa Xuân 2001, và cô Ngô Khang Thy vào học kỳ mùa Thu 2001. Sau đó là thầy Lê Vĩnh Phước năm 2005 (theo học chương trình Th.M và Ph.D chuyên ngành Thánh Kinh Cựu Ước).
– Mặc khác, Mục sư Ngô Thành Tâm (trước là Ngô Hùng Vương) theo tiếng gọi truyền giáo cho nhiều nước đã đến Hàn Quốc theo lời giới thiệu của Mục sư Lê Văn Sanh. Tại đây, với Visa du lịch ông đã phải gia hạn nhiều lần để truyền giáo tại Hàn quốc. Vì lý do sức khoẻ, Giáo sĩ Shim phải tạm nghỉ để dưỡng bệnh nên Mục sư Ngô Thành Tâm tạm thời cư ngụ tại nhà của giáo sư Shim và lo cho Hội Thánh Saemoonan khoảng trọn 1 năm (2001). Ông cũng mở hai chi hội nhánh là Hội Thánh Gerbi và Songuri.
– Sau 1 năm truyền giáo tại đây, vì công việc gia đình nên Mục sư Tâm không thể tiếp tục được. Vả lại trong lúc này các sinh viên thần học vẫn chưa công khai vì cho rằng sau này về Việt Nam sẽ gặp trở ngại khi hầu việc Chúa. Tháng 1 năm 2002, trước tình hình cả 3 Hội Thánh không có người chăn bầy, chúng tôi đã họp nhau và quyết định đứng ra hầu việc cách công khai Chúa chứ không âm thầm như trước. Thầy Võ Đức Trí vừa học xong cử nhân thần học tại Seoul Changshin nên tình nguyện hầu việc Chúa tại Saemoonan sau khi tham dự giờ thờ phượng mà không có người giảng. Cũng cần lưu ý: từ khi Mục sư Ngô Thành Tâm đến đây thì có sự nhóm họp hằng tuần để học Kinh Thánh, học giáo lý Báptêm (còn tuần thứ ba thì nhóm toàn thể).
– Năm 2001, thầy Kiều Công Thuận và thầy Phạm Văn Lộc đến lo cho nhóm người Việt tại Ansan Dongsan. Tiếp đó, thầy Thuận tạm lo việc giảng dạy Kinh Thánh cho hai điểm nhóm: tại Gerbi với sự cộng tác (đưa đón và chăm sóc tín hữu) của bà Giáo sĩ Chae Ha Kuyng, và tại Songuri với sự cộng tác của Giáo sĩ Ahn Chong Ho.
– Trong lúc đó, tại Incheon Namdong Congtan (khu công nghiệp) có Mục sư Na Kuyng Hum lo cho nhóm người Việt Nam qua thông dịch và cộng tác của Truyền đạo người Hàn. Thỉnh thoảng có thông dịch viên. Trước tình hình đó, Mục sư Na đã mời thầy Tâm (trước theo con tàu truyền giáo Hana) về phụ giúp. Nhưng về sau không hợp với nhau nên thầy Tâm về phụ giúp Mục sư An Chong Ho và tự đi làm để sinh sống.
– Tuy nhiên, chưa đầy 6 tháng hầu việc Chúa tình nguyện tại HT Saemoonan, tổ chức lại nề nếp sinh hoạt, dạy giáo lý cho người mới và mở lớp huấn luyện môn đồ thì qua giới thiệu, Hội Thánh đã mời Giáo sĩ Lưu Giăng (Lưu Hồng Sơn) là một người Việt có vợ Hàn và đang làm Giáo sĩ tại Việt Nam. Nhưng vì Giáo sĩ từ chối lo công việc Chúa tại hai điểm nhánh Gerbi và Songuri giống như Mục sư Tâm đã làm trước đây nên thầy Võ Đức Trí tự nguyện rút khỏi Saemoonan để Mục sư Giăng dễ dàng hầu việc Chúa. Thầy lại tự nguyện đến Gerbi để lo cho tín hữu vào tối thứ Bảy cùng với Giáo sĩ Lâm Hiển Nhật (임현일).
– Sau đó, vào năm 2002, Thầy Kiều Công Thuận phải đến lo cho người Việt tại HT Muyngsung vì Mục sư Võ Bá Thanh tốt nghiệp và phải trở về cùng gia đình ở Việt Nam. Do đó, thầy Thuận lại vừa lo cho điểm nhóm Muyngsung (buổi chiều), vừa lo cho điểm nhóm Songuri (buổi sáng) vào Chúa nhật. Vì vậy, từ năm 2002, cô Nguyễn Dương Bích Phượng, tiếp đến cô Dương Ngọc Thư, rồi cô Ngô Khang Thy đến hầu việc Chúa tại HT Ansan Dongsan cho đến khi trở về Việt Nam.
– Năm 2002, Mục sư Lý Nhuận Vũ (이윤우) mời thầy Phạm Văn Lộc về Saejungang cộng tác mục vụ. Cô Nguyễn Dương Bích Phượng cộng tác với giáo sư Park tại thành phố Kwangju.
– Công việc Chúa tại Saemoonan không mấy tiến triển, tín hữu khao khát Lời Chúa, công tác truyền giáo còn quá rộng trong khu vực Seoul. Vì vậy, sau khi Gerbi tạm ổn định, Giáo sĩ Chae đã học tiếng Việt và lái xe tốt nên thầy Trí giao lại công việc cho Giáo sĩ Chae và trở về mở Hội Thánh Dongshin tại khu vực Dongdaemoon vào năm 2003. Rồi cô Ngô Khang Thy đến phụ trách tại Hội Thánh Seomoon. Thầy Đỗ Hồng Nhân được mời thay thế cô Khang Thy để phục vụ Chúa tại Ansan Dongsan.
– Với khát khao được hầu việc Chúa tại Hàn Quốc và Việt Nam sau này, một số anh chị em tín hữu các Hội Thánh đã dâng mình theo học chương trình Đào Tạo người hầu việc Chúa do thầy Phạm Văn Lộc kết hợp với Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam tại California mở vào năm 2004. Có 15 sinh viên theo học và hiện tại có nhiều người đang hầu việc Chúa thành công tại Việt Nam.
III. Giai đoạn tăng trưởng và mục vụ trọn thời gian
1. Phong chức Mục sư tại KAICAM
– Sự biến đổi sau đó theo hướng tập trung mạnh về các sinh viên thần học Việt Nam đảm trách. Nhu cầu mục vụ trọn thời gian tại một số nơi đã tăng cao, những Hội Thánh và các cá nhân/tổ chức tài trợ đòi hỏi sự tự quản và/hoặc độc lập từ phía các vị mục vụ người Việt. Vì thế, một số sinh viên tốt nghiệp thần học đã quyết định gia nhập KAICAM (Korean Association of Independent Churches and Mission – Hiệp Hội Truyền Giáo và Các Hội Thánh Độc Lập Hàn Quốc) và được phong chức Mục sư bởi Hiệp Hội này. Các vị được phong chức từ KAICAM là:
1) Năm 2006, Mục sư Phạm Văn Lộc: Quản nhiệm Hội Thánh Saejungang-Việt Nam cùng với cô Truyền đạo Dương Ngọc Thư. Mục sư Lộc đã hoàn tất chương trình Master of Divinity (M.Div – Cao học thần học [tổng quát]) và Master of Theology (Th.M – Cao học thần học [chuyên ngành]). Hiện đang theo học chương trình tiến sĩ ngành Truyền giáo học tại đại học Yonsei, Seoul.
2) Năm 2006, Mục sư Nguyễn Trường Hy: Quản nhiệm Hội Thánh Dongshin cho đến khi về Việt Nam năm 2008 để tiếp tục theo học chương trình tiến sĩ, chuyên ngành Thần học Hệ thống tại Hồng Kông. Mục sư Nguyễn Trường Hy tốt nghiệp tiến sĩ năm 2011.
3) Năm 2007, Mục sư Nguyễn Thị Thu Thảo: Mở Hội Thánh và quản nhiệm tại HT Buntang-Việt Nam, sau này cùng hầu việc Chúa với thầy Nguyễn Hồng Hải. Nhưng vào năm 2010 vì lý do riêng về gia đình, thầy Nguyễn Hồng Hải đến mở một Hội Thánh khác tại Ansan với sự hổ trợ của Hội CMA Hàn Quốc. Mục sư Thảo đã hoàn tất chương trình M.Div, Th.M, và đang theo học chương trình tiến sĩ chuyên ngành Tân Ước (tốt nghiệp năm…?).
4) Năm 2007, Mục sư Lê Vĩnh Phước: Quản nhiệm Hội Thánh Anyang Jeil cho đến năm 2010, đã tốt nghiệp tiến sĩ ngành Thánh Kinh Cựu Ước và trở về Việt Nam. Hội Thánh Anyang Jeil sau thời gian ngắn tự quản thì mời thầy Trần Thuyên về phụ trách từ năm 2011 (thầy đang theo học chương trình M.Div tại Torch Trinity).
5) Năm 2009, Mục sư Kiều Công Thuận: từ năm 2003-2005 tham dự nhóm và phục vụ tại HT Biên Hoà – Đồng Nai – và năm 2006-2007 phục vụ tại Hội Thánh Khe Sanh, Quảng Trị. Tháng 7 năm 2008, với tiếng gọi của Chúa thầy sang lại Hàn Quốc, khu vực miền nam, đến thành phố Ulsan (gần với Busan) theo lời mời của Hội Thánh Trưởng Lão Ulsan để mở điểm nhóm cho người Việt tại đây. Thầy được phong chức Mục sư từ KAICAM vào tháng 10-2009.
2. Một số Hội Thánh khác cũng hình thành và phát triển:
– Thầy Nguyễn Phương Nam mở và phát triển Hội Thánh Juan-Việt Nam tại Incheon. Hiện nay, Hội Thánh đang tăng trưởng bán tự lập, tức là, mọi công tác phục vụ và mục vụ được giao trọn cho người Việt đảm trách. Hội Thánh Trưởng Lão Juan hổ trợ tài chính và địa điểm cho người Việt Nam.
– Thầy Phạm Văn Huyên từ một người lao động được sự kêu gọi của Chúa dâng đã dâng mình hầu việc Chúa trọn thời gian. Sau thời gian chịu huấn luyện, đã tốt nghiệp cử nhân thần học, và hiện tại đang học chương trình M.div. Thầy đã cộng tác với Mục sư người Hàn để mở điểm nhóm truyền giáo FAN (Friends of All Nations) và HT Nam Incheon.
– Thầy Lê Vĩnh Hưng được mời tham gia nhóm truyền giáo Go&Shine cho đến khi trở về Việt Nam nhận chức Truyền đạo tại Hội Thánh Mỹ Tho (Tiền Giang) thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (Miền nam).
– Cô Nguyễn Thị Cẩm Lệ cộng tác mục vụ ở Hội truyền giáo Gerbang tại Ilsan với Mục sư Lee Suk Hee. Hội Thánh này thầy Võ Đức Trí và cô Ngô Khang Thy đồng cộng tác mục vụ nhiệm kỳ 2008-2009. Sau đó, giao lại cho Giáo sĩ cùng người thông dịch mới là những anh em công nhân hợp tác lao động dâng mình hầu việc Chúa.
– Cô Dương Thị Bích Phượng trong thời gian theo học chương trình Th.M tại trường Torch Trinity, đã tiếp tục mục vụ và phát triển mạnh tại HT Dongshin khu vực Dongdaemun sau nhiệm kỳ của Mục sư Hy. Nhiệm kỳ của cô kéo dài 02 năm (2007-2008). Cô tốt nghiệp chương trình Th.M vào năm 2008, nhưng vì nhu cầu quá lớn của Hội Thánh nên đòi hỏi cô cần phải quản nhiệm với chức Giáo sĩ trọn thời gian thêm 01 năm nữa. Tuy nhiên, vì yêu cầu của trường thần học (sinh viên tốt nghiệp phải trở về nước) nên tạm quay về Việt Nam phục vụ trong Hội Thánh Tin Lành Việt Nam và các Hội Thánh tư gia từ đầu năm 2010. Lúc này, thầy Nguyễn Hữu Đavít (học M.Div tại trường Torch Trinity) tiếp tục công việc Chúa tại HT Dongshin. Thầy Nguyễn Hữu Đavít trước đó đã cộng tác với Hội Thánh Báptít Suwon khoảng 2 năm. Hiện tại thầy đang học chương trình Th.M tại trường Torch Trinity.
– Sau một thời gian dài gián đoạn do thiếu đầy tớ Chúa phụ trách kể từ khi thầy Kiều Công Thuận về Việt Nam tháng 9 năm 2003, điểm nhóm của người Việt tại Hội Thánh Muyngsung đã bắt đầu trở lại vào tháng 1 năm 2010 do thầy Võ Đức Trí đảm trách. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu đặc biệt của Hội Thánh cho đối tượng gia đình đa văn hóa (các cô dâu Việt lập gia đình với người Hàn) nên cô Dương Thị Ngọc Thư đến đây đảm trách từ tháng 1 năm 2011.
– Cùng thời gian này, Hội Thánh Dongil với sự trợ giúp của Giáo sĩ Chae đã được thành lập và cô Trần Thị Kim Tuyến (học Th.M tại ACTS) đảm nhiệm. Hiện nay, cô Thân Thị Thúy Hiền, đang theo học chương trình tiến sĩ tại trường đại học Ihwa, phụ trách HT Dongil thay cho cô Kim Tuyến. Cô Kim Tuyến đảm trách Hội Thánh Yanju Jinli thay cho Giáo sĩ Chae Ha Kuyng. Cô Kim Tuyến cũng mở điểm nhóm mới tại thành phố Gu-ri vào năm 2012.
– Bên cạnh đó, cũng có vài điểm nhóm hay Hội Thánh nhỏ hoạt động tuy rời rạc song vẫn không mất hẳn, trong đó có Hội Thánh Seomoon và Hội Thánh Gerbi. Hội Thánh Seomoon đã bị gián đoạn trong công việc chăn bầy: sau khi cô Ngô Khang Thy về Việt Nam năm 2005 thì có cô Huỳnh Hoài Trúc (học M.Div tại trường Torch Trinity) đến hầu việc Chúa; rồi cô Trúc cũng về thì bị gián đoạn, cho nên, vì không có người thay nên cô Bích Phượng tạm kiêm nhiệm. Do không lo xuể công việc ở hai nơi nên cô Phượng giới thiệu cho thầy Lê Vĩnh Hưng. Thầy Hưng tạm lo khoảng 6 tháng thì về Việt Nam. Tạm vắng ít lâu thì cô Khấu Ngọc Bảo Thy đến đây chăm sóc anh em. Cô Bảo Thy tốt nghiệp chương trình M.Div tại Phi-líp-pin và theo học M.A ngành Môi Trường tại Hàn Quốc nên tạm thời lo cho tín hữu chừng 2 năm. Giữa năm 2010 Hội Thánh lại thiếu người chăn.
– Ngược lại, Hội Thánh Gerbi sau thời gian lắng dịu tới mức phải gởi tín hữu sang Hội Thánh khác chăm sóc thì bà Giáo sĩ Chae, sau khi ông Giáo sĩ Shim (phu quân của Giáo sĩ Chae) về nước Chúa, đã dốc tâm truyền giáo trở lại, mở Hội Thánh và truyền giáo mạnh mẽ tại đây. Mục sư Giáo sĩ Ahn Chong Ho cũng mở Hội Thánh độc lập tại Songuri, tự giảng bằng tiếng Việt không cần thông dịch.
– Mục sư Giáo sĩ Lý Nhuận Vũ đảm trách HT Saemoonan từ năm 2004 đến 2010. Sau đó ông tập trung lo việc tu bổ và xây dựng nhà thờ tại Việt Nam. Từ năm 2011 đến nay, thầy cô Võ Đức Trí-Ngô Khang Thy thay thế Mục sư Lý Nhuận Vũ để đảm nhiệm cho Hội Thánh người Việt tại Saemoonan.
– Sau khi thầy Nguyễn Hữu Đa-vít chuyển về HT Dongshin – Dongdaemun thế cho cô Bích Phượng thì thầy Phan Quốc Hoài tiếp tục công việc Chúa tại HT Báptít Suwon.
– Cô Giáo sĩ Park mở Hội Thánh tại Paran và mời thầy Tống Hồng Giang cộng tác.
– Hội Thánh Buntang Chungang mở trung tâm truyền giáo tại Kwangju và cô Hoàng Thị Kim Oanh cộng tác truyền giáo tại đó.
– Sau khi cô Nguyễn Phương Dung mở và gây dựng Hội Thánh tại Gimpo thì chuyển về cộng tác truyền giáo cho người Việt với Hội Thánh Onnuri tại Ansan.
– Thầy Nguyễn Xuân Thạch cộng tác với hội truyền giáo Go&Shine để mở Hội Thánh tại Bucheon.
– Năm 2009, thầy Nguyễn Ngọc Phong mở Hội Thánh tại thành phố Sangju thuộc tỉnh Kyungsanbokdo.
– Năm 2011, với tâm huyết truyền giáo cho giới du học sinh Việt Nam tại Hàn Quốc, thầy Võ Đức Trí cùng với cô Thân Thị Thúy Hiền thành lập Hội Sinh Viên Cơ-đốc Việt Nam tại Hàn Quốc (VCSK).
3. Tại khu vực miền Trung và Nam của Hàn Quốc:
– Khu vực miền trung, sau khi Mục sư Nguyễn Thị Thu Thảo mở Hội Thánh tại Buntang và được phong chức Mục sư thì công việc phát triển mạnh tại khu vực vùng ven Seoul này. Mục sư Thảo cũng đã chuyển đổi sang quốc tịch Hàn Quốc để công tác mục vụ tại Hội Thánh được ổn định hơn.
– Tại Gumi, cô Truyền đạo Võ Hoàng Quế Phương theo học và tốt nghiệp M.Div tại trường Chongshin thì sau đó làm Giáo sĩ trọn thời gian tại đây cùng với chồng là anh Huỳnh Nguyên Phước. Đây là khu vực có rất nhiều công xưởng nên việc truyền giáo vẫn mở rộng cánh cửa hoạt động.
– Gần đây, từ năm 2011, cô Huỳnh Thị Thanh Thuỷ lo việc truyền giáo tại Daegu cùng với Hội Thánh Dongshin Daegu.
– Tại khu vực phía Nam: Mục sư Kiều công Thuận với sự trợ giúp của HT Tin Lành Trưởng Lão Ulsan đã mở Hội Thánh cho người Việt tại thành phố này. Tại Busan (thành phố kinh tế lớn sau Seoul, giáp ranh với thành phố Gimhae, Yangsan, Ulsan), có cô Huỳnh Thị Hồng Bửu đã tốt nghiệp M.A, và cũng đang theo học chương trình tiến sĩ ngành Cơ-đốc Giáo dục từ năm 2011 tại đại học Kosin, hợp tác với HT Hosanna để lo cho người Việt tại đây. Busan là cánh đồng tiềm năng cho kế hoạch truyền giáo tương lai của Hiệp Hội VCFK.
IV. Công tác thông tin và xuất bản
– Các sinh viên thần học đã cộng tác với nhau phát hành tờ bướm “Quê Hương” để phân phát cho người Việt. Cùng với việc phát hành tờ bướm là thu băng (cassette) gồm có nhạc thánh, câu chuyện đức tin, bài giảng truyền giảng, kêu gọi tin nhận Chúa, và mời gọi tham dự nhóm họp tại các điểm nhóm.
– Năm 2002, để phát hành tờ bướm “Quê Hương” và băng nhạc Cơ-đốc, Nhóm Sinh Viên Thần Học đã cùng nhau quyên góp một số tiền, dù ít ỏi, của chính mình để mua đầu đọc đĩa CD, máy thu băng cassette, băng nhựa, giấy màu, và cùng nhau nghiên cứu cách đánh phông (font) chữ tiếng Việt cho tờ bướm “Quê Hương” trên máy tính hoàn toàn bằng tiếng Hàn. Các băng cassette gốc được gửi miễn phí từ Hội Thánh của ông bà Mục sư Nguyễn Thỉ tại Hoa Kỳ. Các đĩa CD nhạc thánh được đặt mua từ Hoa Kỳ và Việt Nam.
– Vì đa số hội viên lưu trú tại ký túc xá trường ACTS rất xa xôi nên để tiện cho việc liên lạc, Nhóm Sinh Viên Thần Học đã phải thuê hòm thư riêng tại Bưu điện Sinsondong, gần trường thầy Võ Đức Trí theo học, với quí danh của thầy Kim Nak Yun (chồng của cô Nguyễn Thị Anh Đào – 안승희). Để duy trì hộp thư liên lạc ban đầu (yêu cầu 1 tháng phải có 100 thư gởi đến) nên đôi khi nhóm phải gởi thư cho nhau để duy trì hòm thư.
– Mặt khác, khi nhu cầu tôn vinh Chúa trong các Hội Thánh tăng cao vì số tín hữu phát triển, nhiều điểm nhóm phải hát Thánh ca bằng tiếng Hàn, hay một số bài Phúc-âm ca ngắn do thiếu Thánh ca tiếng Việt. Vì thế, sau một năm ròng rã thu thập và biên tập, thầy cô Trí-Thy đã ra mắt quyển “Thánh Ca Việt Hàn” với 350 bài vào tháng 4 năm 2004. Ban đầu chỉ dự định biên tập cho Hội Thánh nhà, nơi mình hầu việc Chúa, vì nhận biết còn nhiều thiếu sót, nhưng theo yêu cầu chung đã cùng in ấn lần thứ nhất với 500 quyển đầu tiên để chia đều cho tất cả các Hội Thánh. Quyển này được chỉnh lý một phần, giúp người đánh đàn tiện lợi hơn và thêm phụ lục bởi Mục sư Ahn Chong Ho năm 2006. Bổ sung một số bài (tổng cộng 405) bài bởi Mục sư Nguyễn Thị Thu Thảo vào năm 2007. Dự định tái soạn thảo thành quyển mới nhằm sớm ra mắt Hội Thánh.
– Tuần Báo Cơ-đốc đã được thầy Nguyễn Phương Nam thu thập thông tin và gởi đến các Hội Thánh để in ấn rồi phân phối cho các tín hữu vào mỗi tuần.
– Hiệp Hội Thông Công cũng đã tự nguyện dâng hiến và thiết kế website tại địa chỉ http://www.tinlanh.or.kr. Ý tưởng này được hình thành khi một số thành viên (Mục sư Võ Bá Thanh, cô Dương Thị Bích Phượng, và cô Ngô Khang Thy) tham gia học vi tính và thiết kế trang web tại Hội Truyền giáo Quốc tế. Trong khi giúp các thành viên làm bài tốt nghiệp, cô Phượng được giáo sư tín nhiệm trao tặng đĩa cài đặt nên đã đem về cùng nhau mày mò thiết kế trang web với ý tưởng truyền giáo qua mạng Internet. Trang này tạm ngưng vì lý do tài chính. Cầu xin Chúa cho trang này sớm trở lại với gương mặt mới, thích ứng với thời đại này.
– Ngoài ra, Hiệp Hội VCFK cũng đã liên hệ để đặt mua hoặc nhận miễn phí các tài liệu học Kinh Thánh, tạp chí Cơ-đốc, và truyền đạo đơn từ Việt Nam, Hoa Kỳ, và các nước khác.
* Điểm Lược Những Sự Kiện Quan Trọng
– Hiệp Hội Thông Công Sinh Viên Thần Học Việt Nam tại Hàn Quốc (Vietnamese Theological Fellowship in Korea), VTFK, hình thành năm 2004. VTFK khởi điểm với dấu ấn “Hội Trại Tết Nguyên Đán 2005” và các khoá huấn luyện tập trung 03 tháng và 01 tháng dành cho các tín hữu chuẩn bị trở về Việt Nam. Cũng cần lưu ý, trước khi Hiệp Hội này chính thức được khai sinh thì cũng đã có sự thông công và hiệp tác với nhau trong sự cầu nguyện và công tác truyền giảng từ năm 2000, mà địa điểm họp mặt, cầu nguyện, và bàn bạc là trường ACTS thuộc quận Yangpyung.
– Tất cả thành viên của VTFK là các sinh viên thần học và mọi người đều là uỷ viên Ban Điều Hành để cùng cộng tác với nhau. Ý tưởng thành lập Hội Thông Công Cơ-đốc xuất phát với hai lý do:
1) Yếu tố nội tại: Công việc truyền giáo và hiệp tác mục vụ giữa các nhóm, các Hội Thánh là nhu cầu cần thiết nên cần có sự thông công và cầu nguyện, chia sẻ và cộng tác để cùng làm việc chung nhằm mang lại hiệu quả cao cho nhà Chúa. Từng thành viên nhận biết ân tứ của mình và tự nguyện đóng góp hay quyên góp để duy trình mối thông công và công tác mục vụ.
2) Yếu tố ngoại tại: Hội VDM và nhiều Hội Thánh Hàn Quốc muốn cùng thông công và chia sẻ với nhóm thông công Việt Nam nên cần biết “Tên gọi của nhóm thông công và người đại diện liên lạc”. Vì thế, nhóm sinh viên thần học người Việt tại Hàn Quốc quyết định lấy tên viết tắt là VTFK (Vietnamese Theological Fellowship in Korea). Ban đầu chỉ lấy tên là VTF tương tự như VDM của người Hàn. Nhưng khi đăng ký Groups trên Yahoo thì “VTF” đã có rồi nên sau khi hội thảo nhanh đã thêm chữ “K” (Korea) nữa. Ý tưởng này cũng hàm ý rằng vì có nhiều VTF ở nhiều nước trên thế giới (chẳng hạn: VTFV, VTFU…) nên tại Hàn Quốc thì VTFK là hợp lý nhất.
– Năm 2006, nhờ ân điển lớn lao của Chúa, thầy Phạm Văn Lộc và thầy Nguyễn Trường Hy được phong chức Mục sư từ Hiệp Hội Truyền Giáo và Các Hội Thánh Độc Lập Hàn Quốc (KAICAM), và năm 2007 thầy Lê Vĩnh Phước và cô Nguyễn Thị Thu Thảo đã được phong chức từ Hiệp Hội này. Sau đó, năm 2009 thầy Kiều Công Thuận cũng được tấn phong Mục sư từ Hiệp Hội trên. Như vậy, tính đến nay (2012), đã có 05 vị được phong chức Mục sư từ Hiệp Hội KAICAM.
– Khi đã có các vị Mục sư và Truyền đạo phục vụ Chúa trọn thời gian, vào năm 2007, “Hiệp Hội Thông Công Sinh Viên Thần Học Việt Nam tại Hàn Quốc” (Vietnamese Theological Fellowship in Korea – VTFK) đã đổi tên thành “Hiệp Hội Thông Công Cơ-đốc Việt Nam tại Hàn Quốc” (Vietnamese Christian Fellowship in Korea – VCFK). Và từ Hội Trại Trung Thu 2011, lô-gô chính thức của Hiệp Hội VCFK đã được thiết kế lại, thông qua, và sử dụng chung.
– Lô-gô của VCFK cómàu xanh dương [xanh biển/da trời]. Lô-gô này cũng là hình dạng con dấu (màu đỏ, đường kính 35mm) của VCFK.
* Ý nghĩa Lô-gô của VCFK
Màu sắc và hình ảnh:
– Màu xanh nước biển và da trời tượng trưng cho hòa bình và hy vọng.
– Ba người cùng nắm tay nhau và đứng trên vòng tròn tượng trưng cho sự thông công, liên kết, và nâng đỡ lẫn nhau. Hình người được thể hiện từ “chữ V” cách điệu, tượng trưng cho người Việt Nam.
– Hình ảnh con cá tượng trưng cho Hội Thánh và sứ mạng truyền giáo. Hình ảnh nhà thờ tượng trưng cho Hội Thánh của Đấng Christ và Vương Quốc của Ngài. VCFK có sứ mạng gây dựng và mở mang Hội Thánh của Chúa cho người Việt tại Hàn Quốc, tức là: Vì Vinh Quang và Vương Quốc của Đức Chúa Trời!
Tiêu đề văn bản của VCFK:
* Mục Đích của VCFK là:
Vì Vinh Quang và Vương Quốc của Đức Chúa Trời!
FOR GOD’S GLORY AND HIS KINGDOM!
1. Mỗi người Việt Nam tại Hàn Quốc ít nhất một lần được nghe Tin Lành cứu rỗi của Chúa Giê-xu.
2. Thông công, nối vòng tay cầu nguyện, và hiệp tác giữa các Mục sư, Truyền đạo, Giáo sĩ, Sinh viên thần học, và Tín hữu người Việt đang sinh sống, lao động, học tập, và phục vụ Chúa tại Hàn Quốc.
3. Thông công và liên kết với các Hiệp Hội, Hội Thánh Hàn Quốc nhằm tổ chức các chương trình như: Trại Tết, Trại Hè, Trại Trung Thu (Chuseok)… để bồi linh, huấn luyện cho tín hữu, và truyền giảng Tin Lành của Đức Chúa Giê-xu Christ cho người Việt tại Hàn Quốc.
4. Yêu kính và phục vụ Chúa thông qua việc phục vụ và trợ giúp người Việt Nam (không phân biệt sắc tộc, giới tính, tôn giáo…) đang sinh sống, lao động, và học tập tại Hàn quốc.
***
Hiệu chỉnh lần cuối ngày 22 tháng 09 năm 2012
Soạn thảo và hiệu chỉnh:
Tđ. Võ Đức Trí
Ms. Phạm Văn Lộc
Ms. Kiều Công Thuận


